NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

 Giai dap Pháp luật về thai sản
Tôi là giáo viên Tiểu học, có thời gian nghỉ thai sản trùng với 2 tháng hè. Vậy tôi được nghỉ 6 tháng kể từ 2 tháng hè hay 6 tháng thai sản + 2 tháng hè. Hồ sơ làm như thế nào? Xin cảm ơn.
Được hỏi bởi  
Sưu Tầm  
ngày 03/08/2017

Nội dung trả lời:

     Tại Điều 34 Luật BHXH năm 2014 quy định về thời gian nghỉ thai sản của nữ như sau:
     1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
     Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
     2. Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
     a) 05 ngày làm việc;
     b) 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;
     c) Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
     d) Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
     Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.

     3. Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều này; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
      4. Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của Luật này mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
     5. Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà không nghỉ việc theo quy định tại khoản 4 Điều này thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
     6. Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

     7. Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5 và 6 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
     Ngoài ra thì Khoản 3 Điều 5 Thông tư 28/2009/TT- BGDĐT  về chế độ làm việc giáo viên phổ thông quy định:
     8. Thời gian nghỉ hằng năm của giáo viên gồm: nghỉ hè, nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ và các ngày nghỉ khác, cụ thể như sau:
     a) Thời gian nghỉ hè của giáo viên thay cho nghỉ phép hàng năm là 02 tháng, được hưởng nguyên lương và các phụ cấp ( nếu có);
     b) Thời gian nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
     c) Các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ Luật lao động.

    Căn cứ kế hoạch năm học, quy mô, đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng trường, Hiệu trưởng bố trí thời gian nghỉ hằng năm cho giáo viên một cách hợp lý theo đúng quy định
    Theo đó thời gian nghỉ hè của giáo viên thay cho nghỉ phép hàng năm là 02 tháng, được hưởng nguyên lương và các phụ cấp (nếu có) và hiệu trưởng bố trí thời gian nghỉ hàng năm cho giáo viên một cách hợp lý theo quy định. Còn chế độ thai sản do BHXH chi trả.
     Vấn đề trùng với thời gian như tình huống của bạn thì pháp luật hiện hành cũng không quy định chi tiết. Tuy nhiên, bạn có thể đề nghị hiệu trưởng nhà trường bố trí cho bạn nghỉ phép trước khi thai sản hoạc lùi thời gian nghỉ phép sau khi nghỉ thai sản.
                                    

PK ( Sưu tầm)


 Giải đáp pháp luật
Tôi tham gia bảo hiểm ở 1 công ty được 6 tháng, vì lý do sức khỏe tôi nghỉ ngang và chỉ có sổ bảo hiểm, không có giấy chốt sổ. Tôi đi làm ở công ty mới và tiếp tục tham gia bảo hiểm ở công ty và nộp sổ cũ đó, công ty không nhận sổ nhưng vẫn đóng tiền bảo hiểm hàng tháng. Hiện nay tôi đã nghỉ việc và cũng chỉ lấy được sổ bảo hiểm, không có giấy chốt sổ do công ty mới yêu cầu gấy chốt sổ công ty cũ. Vậy tôi cần làm những gì để có thể lấy được tiền bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp?
Được hỏi bởi  
Sưu Tầm  
ngày 03/08/2017

Nội dung trả lời:

     Trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm thuộc về người sử dụng lao động (NSDLĐ), không phụ thuộc vào người lao động (NLĐ) nghỉ việc đúng quy định hay không. Trong trường hợp NSDLĐ cố tình trả lại sổ BHXH cho NLĐ thì NLĐ có thể làm đơn khiếu nại gởi đến Công đoàn hoặc Thanh tra lao động Sở Lao động hoặc Phòng Lao động –TB&XH để cơ quan này giải quyết buộc NDSLĐ thực hiện chốt và trả lại sổ BHXH cho NLĐ. Ngoài ra, cũng có thể trực tiếp khởi kiện ra Tòa án quận/huyện nơi công ty đặt trụ sở.
     Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Điều 49, Luật việc làm, năm 2013 quy định: NLĐ quy định tại khoản 1 điều 43 của Luật này đang đóng BHTN được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
    1. Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) làm việc trừ các trường hợp sau đây:
    a). NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
    b). Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng
    2. Đã dóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 43 của Luật này.
    3. Đã nộp hồ sơ hưởng lương trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 của Luật này.
    4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây:
    a). Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
    b). Đi học tập đủ 12 tháng trở lên;
    c). Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sỡ giáo dục bắt buộc;
    d). Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
    đ). Ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
    e). Chết”
    Về NLĐ chấm dứt hợp đồng trái pháp luật được Bộ Lao động năm 2012 quy định cụ thể tại Điều 37 và Điều 43.
 
    Như vậy, trong trường hợp này NLĐ nghỉ ngang tức là đơn phương chấm dứt hộp đồng lao động trái pháp luật nên không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp.

PK (sưu tầm)


 Người lao động bị tai nạn lao động, Cty phải làm gì?
Nhằm giúp cho đoàn viên, người lao động hiểu biết thêm một số tình huống xảy ra có liên quan đến pháp luật lao động quy định; để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Ban biên tập Website LĐLĐ tỉnh đăng mục “Bạn hỏi-Luật sư trả lời” trên Báo Lao động, số 130, ra ngày 07/6/2017, với nội dung trả lời của N.Dương-Q,Hùng Văn phòng tư vấn Báo Lao Động, xin mời các đồng chí cán bộ công đoàn và đoàn viên, CNVCLĐ theo dõi để thực hiện. Bạn đọc có số điện thoại 0977349xxx gọi đến đường dây nóng của Văn phòng TVPL Báo Lao Động hỏi: Tôi mới đi làm được một tuần thì bị TNLĐ. Khi nhập viện, tôi phải chi trả hết tiền viện phí. Nếu tôi nghỉ việc thì Cty có phải trả tiền cho tôi không?
Được hỏi bởi  
Bạn đọc có số điện thoại 0977349xxx  
ngày 23/06/2017

Nội dung trả lời:

Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính thăm gia đình
anh Nguyễn Đức Cường (Cty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội) bị tai nạn lao động.Ảnh: ĐT

 

Văn phòng TVPL Báo Lao Động trả lời: Theo quy định tại Điều 38 Luật ATVSLĐ thì NSDLĐ có trách nhiệm đối với NLĐ bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp như sau:
    1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho NLĐ bị TNLĐ và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho NLĐ bị TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp;
    2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp như sau: a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do BHYT chi trả đối với NLĐ tham gia BHYT; b) Trả phí khám giám định mức suy giảm KNLĐ đối với những trường hợp kết luận suy giảm KNLĐ dưới 5% do NSDLĐ giới thiệu NLĐ đi khám giám định mức suy giảm KNLĐ tại Hội đồng GĐYK; c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với NLĐ không tham gia BHYT;
    3. Trả đủ tiền lương cho NLĐ bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
    4. Bồi thường cho NLĐ bị TNLĐ mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho NLĐ bị bệnh nghề nghiệp với mức: a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% KNLĐ; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm KNLĐ từ 11% đến 80%; b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân NLĐ bị chết do TNLĐ, bệnh nghề nghiệp;
    5. Trợ cấp cho NLĐ bị TNLĐ mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm KNLĐ tương ứng;
    6. Giới thiệu để NLĐ bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp được GĐYK xác định mức độ suy giảm KNLĐ, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
    7. Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng GĐYK về mức suy giảm KNLĐ hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra TNLĐ công bố biên bản điều tra TNLĐ đối với các vụ TNLĐ chết người;
    8. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng GĐYK đối với NLĐ bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc.
    9. Lập hồ sơ hưởng chế độ về TNLĐ, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục 3 Chương này; 10. Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho NLĐ nghỉ việc do bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp được quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.
    Như vậy, Cty của bạn có nghĩa vụ thanh toán các khoản chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị TNLĐ.


 Chế độ đối với chức danh Trưởng ban TTND, TB nữ công
Kính gửi: Ban biên tập Hiện tôi đang công tác tại trường Cao đẳng Sư phạm, tôi có một số vấn đề liên quan đến chế độ đối với cán bộ Công đoàn (Không chuyên trách) như sau: Tại Điều 6, Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT có quy định các chức danh: Chủ tịch, Phó chủ tịch Công đoàn; Trưởng ban thanh tra nhân dân đều được giảm định mức giờ dạy theo tỷ lệ tương ứng. Tuy nhiên, thông tư số 08/2016/TT-BGDĐT ban hành ngày 28/3/2016 của Bộ GD-ĐT chỉ quy định quy đổi ra giờ dạy đối với chức danh Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên BHC công đoàn; bên cạnh đó tại Điều 5 của Thông tư 08 có nêu rõ Thông tư này thay thế Điều 6 của Thông tư 47. Vậy cho phép tôi được hỏi chế độ đối với chức danh: Trưởng ban thanh tra nhân dân; Trưởng ban nữ công. Rất mong sớm nhận được phản hồi của Quý cơ quan. Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Được hỏi bởi  
Nguyễn Thành Công  
ngày 27/12/2016

Nội dung trả lời:

Điều 6 của thông tư 47/2014/TT-BGDDT đã hết hiệu lực, do đó chế độ giảm định mức giờ dạy, tiết dạy tại trường Cao đẳng sư phạm nơi bạn đang công tác cần được áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư 08/2016/TT-BGDDT : 
4. Giảng viên trường cao đẳng, học viện, trường đại học và đại học
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, hàng năm, Hiệu trưởng (Giám đốc) cùng với Ban chấp hành công đoàn thống nhất phương án quy định thời gian được sử dụng làm công tác công đoàn cho giảng viên làm công tác công đoàn không chuyên trách đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ của giảng viên (giảng dạy, nghiên cứu khoa
học và làm các công việc khác) và quy định về tự chủ của đơn vị. Nếu chọn phương án giảm giờ nghiên cứu khoa học hoặc làm các công việc khác thi theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Công đoàn. Nếu chọn phương án giảm định mức giờ dạy thì theo quy định sau:
a) Giảng viên làm chủ tịch, phó chủ tịch công đoàn cơ sở không chuyên trách được giảm 44 giờ dạy trong một năm học;
b) Giảng viên làm ủy viên ban chấp hành, tổ trưởng, tổ phó tổ công đoàn không chuyên trách được giảm 22 giờ dạy trong một năm học.

 Tranh chấp lao động
Số CNLĐ bị nợ BHXH trên làm giấy ủy quyền cho một đại diện của tổ chức công đoàn thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện này có quyền và nghĩa vụ như những người khởi kiện trên . Đơn khởi kiện được gửi tới Tòa án cấp huyện nơi có Công ty đặt trụ sở kèm theo giấy tờ chứng minh tư cách khởi kiện của người đại diện, các tài liệu, căn cứ chứng minh người sử dụng lao động xâm phạm tới lợi ích của người lao động. Tòa án sẽ hướng dẫn, yêu cầu bổ sung, giao nộp thêm tài liệu nếu cần trong quá trình giải quyết.
Được hỏi bởi  
BÙI QUỐC HỢP  
ngày 27/12/2016

Nội dung trả lời:

Số CNLĐ bị nợ BHXH trên làm giấy ủy quyền cho một đại diện của tổ chức công đoàn thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện này có quyền và nghĩa vụ như  những người khởi kiện trên . Đơn khởi kiện được gửi tới Tòa án cấp huyện nơi có Công ty đặt trụ sở kèm theo giấy tờ chứng minh tư cách khởi kiện của người đại diện, các tài liệu, căn cứ chứng minh người sử dụng lao động xâm phạm tới lợi ích của người lao động. Tòa án sẽ hướng dẫn, yêu cầu bổ sung, giao nộp thêm tài liệu nếu cần trong quá trình giải quyết.

 Sinh con thứ ba
Trong trường hợp viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập sinh con thứ 3 (không thuộc diện ưu tiên của chính sách KHHGĐ) thì Công đoàn cơ sở nên tham gia giải quyết như thế nào?
Được hỏi bởi  
Lê Phương Anh  
ngày 27/12/2016

Nội dung trả lời:

Căn cứ theo Pháp Lệnh  của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 06/2003/PL-UBTVQH11 ngày 09/01/2003 về dân số đã qui định tại  Điều 38. Xử lý vi phạm:

“1. Người nào có hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến công tác dân số thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

Đồng thời theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số và Điều 1 Nghị định số 18/2011/NĐ-CP ngày 17/3/2011 sửa đổi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP, thì những trường hợp sau đây không vi phạm quy định chỉ được sinh một hoặc hai con theo Pháp lệnh dân số:

1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.

3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.

4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.

5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.

6. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):

a) Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ);

b) Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.

7. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

Như vậy, nếu cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3 nằm ngoài những trường hợp đặc biệt được sinh con thứ 3 theo qui định trên được xét là đã vi phạm chính sách Dân số.

Hiện nay, có một số Bộ, Ngành ban hành thông tư, Hội đồng nhân dân ở một số tỉnh đã cụ thể hóa chính sách Dân số theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã ban hành Nghị quyết về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, trong đó có hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức vi phạm sinh con thứ ba trở lên. Theo đó, hình thức xử lý cụ thể đối với cán bộ, công chức vi phạm được thực hiện theo Thông tư của Bộ, Ngành hoặc Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của UBND tỉnh nơi cán bộ, công chức đó công tác.

Vậy nên, nếu viên chức của đơn vị bạn sinh con thứ 3, là cán bộ công đoàn, bạn cần phải biết rõ hiện nay Bộ, ngành, địa phương nơi bạn công tác hoặc cơ quan, đơn vị của bạn đã có quy định gì về các hình thức xử phạt với những cá nhân có hành vi vi phạm chính sách dân số hay không? để tham mưu với lãnh đạo, cơ quan đơn vị, người có thẩm quyền trong việc xử lý vi phạm tại cơ quan, đơn vị bạn.

Ngoài ra, nếu viên chức tại đơn vị, cơ quan bạn người vi phạm là đảng viên, thì còn phải thực hiện các hình thức xử phạt theo qui định của đảng cụ thể là Quyết định số 09-QĐ/TW ngày 24/3/2011 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình. Theo quyết định này đảng viên vi phạm trong trường hợp sinh con thứ 3 (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách; sinh con thứ 4 thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ); sinh con thứ 5 trở lên thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi tổ chức Đảng.


văn bản mới
  HD sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 77-KL/TW ngày 24/2/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Tổ chức Tháng công nhân
  V/v truyên truyền kết quả giải quyết sự cố môi trường tại một số tỉnh miền Trung (kèm tài liệu tuyên truyền)
  Hướng dẫn công tác tuyên truyền "Năm hữu nghị Việt Nam - Campuchia"; "Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào" năm 2017
  Triển khai thỏa thuận với CTCP Thương mại Nguyễn Kim
  Vận động CNVCLĐ chung tay chia sẻ khó khăn với người chăn nuôi
liên kết web